Đôi nét về Đất nước Anh Quốc

22 Đôi nét về Đất nước Anh Quốc  Tên nước: Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ai Len (gọi tắt là Anh);

Thể chế: Quân chủ lập hiến; 
Thủ đô: London  (7,3 triệu người);
Vị trí địa lý: Nằm ở Tây Âu, giáp Ai Len với đường biên giới dài 360km;
Khí hậu: Ôn đới;
Diện tích: 244.820 km2 (Đất liền 241.590 km2; mặt nước 3.230 km2);
Dân số: 61 triệu người (7/2008); 
Quốc khánh: Ngày 11 tháng 6 (Ngày sinh Nữ Hoàng Elizabeth II);
Đơn vị tiền tệ: Pound (Bảng Anh); tỷ giá 1 GBP = 1,9 USD;
Các dân tộc : Người Anh: 83,6%, người Scotland 8,6%; người xứ Wales 4,9%; người Bắc  Ai Len 2,9%;
Ngôn ngữ: Tiếng Anh. Ngoài ra còn có các tiếng địa phương như tiếng Welsh, tiếng Scottish;
Tôn giáo: Đa số theo đạo Tin Lành/ Anh Giáo
Lãnh đạo chủ chốt hiện nay: Nữ hoàng Elizabeth II (Nguyên thủ quốc gia, đăng quang ngày 2/6/1953); Thủ tướng Gordon Brown (Công Đảng); Bộ trưởng Ngoại giao David Miliband (Công Đảng); Chủ tịch Thượng Viện Baroness Hayman (Công Đảng); Chủ tịch Hạ Viện John Bercow (Công Đảng).

1. Lịch sử:
Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ai len bao gồm 4 xứ: Anh (England, diện tích 130.281 km2, dân số 49.537.000 người), Xứ Uên (Wales, 20.732 km2, 2.919.000 người), Xcốt-len (Scotland, 5.055.000 người) và Bắc Ai Len (Northern Ireland, 1.679.000 người); mỗi xứ có lịch sử và văn hoá riêng.  
Các mốc chính trong lịch sử:

Từ 43 – 409: Bị người La Mã chiếm đóng;
Năm 450: Người Bắc Âu xâm chiếm và hình thành các Vương quốc Anglo – Saxon;
Năm 597:  Bắt đầu sự xâm nhập của Thiên Chúa giáo;
Năm 789: Bắt đầu các cuộc tấn công của người Viking;
Từ 1017 – 1042: Triều đại của người Viking gốc Đan Mạch;
Năm 1066: Người Norman xâm chiếm, du nhập tiếng Pháp vào giới quí tộc Anh;
Năm 1337: Cuộc chiến tranh trăm năm giữa Anh và Pháp bắt đầu; 
Năm 1547:  Tin Lành trở thành Quốc đạo ở Anh;
Năm 1707:  Đạo luật hợp nhất Anh và Xcốt-len;
Từ 1760 – 1830: Cách mạng Công nghiệp ở Anh;
Từ 1775 – 1783: Thất bại trong cuộc chiến thuộc địa tại Mỹ; 
Năm 1800: Đạo luật hợp nhất Anh và Bắc Ai Len;
Năm 1947: Với việc Ấn Độ và Pakistan giành độc lập, Đế chế Anh bắt đầu tan vỡ;
Năm 1973: Vương quốc Anh gia nhập EEC (nay là EU).

2/ Chính trị :
Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ai Len là nước quân chủ lập hiến, có hệ thống luật pháp theo mô hình Luật án lệ. Các thể chế chính trị chính gồm: 
– Nữ hoàng: là Nguyên thủ Quốc gia, đứng đầu Cơ quan Lập pháp và Hành pháp, Tổng tư lệnh tối cao các lực lượng vũ trang, đứng đầu Giáo hội Anh và là Nguyên thủ Quốc gia của 16/53 nước thuộc Khối thịnh vượng chung. Tuy nhiên, trên thực tế quyền lực của Nữ hoàng chỉ mang tính chất tượng trưng. 
– Cơ quan lập pháp: Quốc hội Anh được cấu thành bởi 3 thành phần: Vua (hay Nữ hoàng), Thượng viện và Hạ viện, và cả ba thành phần chỉ họp chung trong những sự kiện đặc biệt (như khi Nữ hoàng khai mạc Quốc hội mới). Mỗi viện đều có các uỷ ban đảm nhiệm các công việc khác nhau. Hạ viện là cơ quan duy nhất được dân bầu và trên thực tế là cơ quan lập pháp chủ yếu.
+ Thượng viện (House of Lords): Còn gọi là Viện Nguyên lão, hiện có 618 nghị sỹ với nhiệm kỳ 5 năm, gồm các Thượng nghĩ sỹ cha truyền con nối có dòng dõi quý tộc và Hoàng gia. Thượng nghị sỹ là những chức sắc quan trọng của Giáo hội Anh và những chính khách có công lao lớn với đất nước. Chính phủ Công đảng đang tiến hành cải cách Thượng viện theo hướng xoá bỏ chế độ cha truyền con nối, thay vào đó là cử những người có công với đất nước được Nữ hoàng phong cấp. 
+ Hạ viện (House of Commons): Là Cơ quan lập pháp chủ yếu gồm 646 nghị sỹ, được bầu theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, nhiệm kỳ 5 năm. Chức năng chính của Hạ viện là thông qua các đạo luật, chủ trương, chính sách lớn về kinh tế, xã hội, chính trị đối nội và đối ngoại, giám sát hoạt động của Chính phủ. Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, Đảng Bảo thủ và Công Đảng thay nhau chiếm đa số trong Hạ Viện. Hiện nay, Công Đảng chiếm đa số tuyệt đối và là đảng cầm quyền. Sau tuyển cử ngày 5/5/2005, Công Đảng chiếm 355 ghế, Bảo thủ 198 ghế, Dân chủ tự do 62 ghế. Ngoài ra còn các đảng mang tính chất địa phương như đảng Plaid Cymru ở Xứ Uên, đảng Quốc gia Scốt ở Scotland, đảng Liên hiệp Ulster ở Bắc Ai-len… chiếm 31 ghế.
– Cơ quan hành pháp:
+ Thủ tướng: Do Nữ hoàng bổ nhiệm và được Hạ viện thông qua. Chức năng chính là điều hành nội các, kiến nghị Nữ hoàng bổ nhiệm các giám mục và quan toà. Thủ tướng có quyền, được sự đồng ý của Nữ Hoàng, tuyên bố giải tán Quốc hội và định ngày tuyển cử Quốc hội. 
+ Nội các: Khoảng 20 – 22 thành viên do Thủ tướng chỉ định và Nữ Hoàng phê duyệt, bao gồm các Bộ trưởng các bộ, Bộ trưởng không bộ tạo thành Chính phủ của Nữ hoàng. Chức Quốc Vụ khanh tương đương với chức Thứ trưởng của Việt Nam. Từ năm 1995 dưới chính quyền của Đảng Bảo thủ có chức Phó Thủ tướng. Hiện nay, dưới chính phủ mới do Công đảng lãnh đạo chức vụ này không được duy trì.

3/ Kinh tế:
Kinh tế Anh là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, chủ yếu dựa vào khu vực kinh tế tư nhân (chiếm 80% sản lượng và 75% lao động). Trong những năm 80, dưới thời Thủ tướng M.Thatcher, Anh đi đầu các nước phương Tây trong việc tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước. 
Hiện Anh là nền kinh tế lớn thứ 5 thế giới (thứ 2 trong EU, sau Đức) với GDP năm 2008 đạt 2.281 tỷ USD (tính theo PPP), GDP trên đầu người (tính theo PPP) năm 2008 đạt 37.400 USD. Anh nổi bật là một trong những nền kinh tế toàn cầu hoá nhất thế giới, với chính sách tự do thương mại, chống bảo hộ (tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Anh năm 2008 đạt khoảng 1.114 tỷ USD).
Thành phố Luân Đôn là một trong những trung tâm tài chính quan trọng nhất thế giới cùng với New York và Tokyo. Năm 2005, Anh xuất khẩu 21 tỷ Bảng (tương đương 40 tỷ USD) dịch vụ tài chính.
Trong thời gian qua, nền kinh tế đã duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao so với các nước EU (2006: 2,8%, 2007: 3,1%, 2008 : 1,1%) ; thất nghiệp thấp (khoảng 5%); lạm phát thấp và ổn định nhất kể từ năm 1959, được Ngân hàng Trung ương điều tiết quanh mức 2%. 
Các ngành kinh tế mũi nhọn của Anh gồm ngân hàng, tài chính, bảo hiểm; sản xuất thép, đóng tàu, khai thác than; các ngành công nghiệp hoá chất, điện tử; viễn thông, công nghệ cao; dệt, may mặc. 
Về thương mại, Anh đứng thứ 4 thế giới (sau Mỹ, Đức và Nhật Bản) với xuất khẩu 468 tỉ USD và nhập khẩu đạt 645 tỉ USD (2008). Thương mại có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân (xuất khẩu chiếm 26% GDP); thị trường chủ yếu là EU, chiếm 53% tổng xuất khẩu và 52% tổng nhập khẩu của Anh, sau đó đến Mỹ, Nhật, Trung Quốc. Xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ của Anh tính theo đầu người cao hơn Mỹ hoặc Nhật. Hàng xuất chủ yếu gồm sản phẩm dịch vụ, công nghiệp chế tạo, chất đốt, hoá chất, lương thực, đồ uống, thuốc lá trong khi hàng nhập khẩu chủ yếu gồm nguyên nhiên liệu, sản phẩm công nghiệp chế tạo, lương thực. 
Về đầu tư, Anh đứng thứ 5 thế giới về đầu tư ra nước ngoài, chiếm khoảng 6,5% tổng đẩu tư của thế giới và đứng thứ 2 thế giới (139,5 tỷ USD) về nhận đầu tư nước ngoài, chiếm 11,5% tổng đầu  tư thế giới.

4/ Chính sách đối ngoại:
Anh có một chính sách đối ngoại mang tính toàn cầu. Anh là Uỷ viên thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, thành viên quan trọng trong NATO, thành viên EU, thành viên G8, đứng đầu Khối Thịnh Vượng chung gồm 53 nước (chủ yếu là những nước thuộc địa cũ của Anh) và là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế quan trọng khác, có tiếng nói quan trọng trên trường quốc tế. Anh có quan hệ ngoại giao với 165 nước. 
Mục tiêu chính sách đối ngoại của Anh hiện nay là
– Ưu tiên đối ngoại hàng đầu là củng cố và phát triển quan hệ đồng minh chiến lược với Mỹ trong đó NATO là hạt nhân quan trọng; 
– Phát triển quan hệ với EU nhưng không đối trọng với Mỹ, tăng cường ảnh hưởng và sự lãnh đạo của Anh tại châu Âu, phát huy vai trò cầu nối giữa châu Âu và Mỹ;
– Tăng cường sức mạnh Khối Thịnh vượng chung;
– Phát huy vai trò của Liên Hiệp Quốc trong các hoạt động gìn giữ an ninh và hoà bình, phát triển quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia, hợp tác quốc tế trong các vấn đề kinh tế, xã hội, văn hoá và nhân đạo mang tính toàn cầu, và bảo vệ nhân quyền;
– Đi đầu trong các vấn đề bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
Gần đây Anh bắt đầu đẩy mạnh quan hệ với các nước ASEAN và châu Á, khu vực trước đây Anh chưa mấy chú trọng. Một mặt, Anh có nhu cầu củng cố vai trò và vị trí của mình tại các thuộc địa cũ trong khu vực trước ảnh hưởng ngày càng lớn của Trung Quốc, mặt khác Anh thực sự thấy lợi ích trong phát triển quan hệ hợp tác kinh tế với khu vực này./.

5. Quan hệ văn hoá – giáo dục:
Trong những năm qua, hợp tác giữa Việt Nam và Anh trong lĩnh vực giáo dục đào tạo phát triển tích cực. Hàng năm, Chính phủ Anh dành từ 25-30 suất học bổng cho học sinh ViệtNam. Số người Việt Nam nhận học bổng của Chính phủ Anh cho đến nay là trên 600. Hiện có khoảng 6000 sinh viên Việt Nam đang theo học tại các trường của Anh quốc.
Hội đồng Anh (BC) có mặt tại Việt Nam từ cuối 1993, có trụ sở ở Hà Nội và TP HCM. Đến nay BC đã tổ chức các lớp bổ túc tiếng Anh miễn phí cho trên 1.000 cán bộ của ViệtNam, trong đó có hơn 40 cán bộ cấp Thứ trưởng và tương đương.  Ngoài ra, thông qua Hội đồng Anh, Chính phủ Anh đã giúp Việt Nam đào tạo tiếng Anh và cung cấp nhiều học bổng ngắn hạn cho công chức của Việt Nam. Đại sứ quán Anh và BC thường xuyên tổ chức triển lãm giáo dục của Anh ở Việt Nam. Hiện nay, Hội đồng Anh và Bộ Giáo dục – Đào tạo đang gấp rút đưa ra Quy chế hoạt động mới cho Hội đồng Anh tại Việt Nam. 
Từ 1994 đến nay đã có khoảng 20 chương trình liên kết đại học Việt Nam-Anh. Hiện Đại học East Anglia đã được cấp giấy phép mở Văn phòng đại diện tại Hà Nội; Đại học Webminster liên kết với Đại học Bách khoa Hà Nội đang xin mở Văn phòng đại diện; Đại học West of England xin phép liên kết với Đại học thành phố Hồ Chí Minh mở lớp đào tạo Master về luật.
Tháng 3/2008, Việt Nam đã ký với Anh Hiệp định cấp chính phủ về hợp tác giáo dục – đào tạo, hai bên nhất trí sẽ thiết lập từ 40 đến 60 liên kết trường học cấp (phổ thông, trung cấp, đại học) trong 3 năm và cam kết cho phép thành lập trường Apollo tại Việt Nam nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Anh. Tháng 9/2008, trong chuyến thăm Việt Nam, Hoàng tử Anh Andrew đã chứng kiến Lễ ra mắt trường Đại học Apollo tại Hà Nội.